TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM
Khoá 10 Trần Bình Trọng
50 Năm Ngậm Ngùi

50 năm về sau
Các Anh và tôi không còn nữa.
Cõi phù sinh tro tàn tắt lửa
Bóng tinh cầu ngơ ngác trời đêm.
Mộ phương nào còn có tiếng ru êm
Đọng trên từng ngọn cỏ ?
Lời của Mẹ đong đưa vờn theo gió
Vọng về đâu hai tiếng Nhục - Vinh ?
Bước chân em, dù chung thủy - đoạn tình
Khô ngấn lệ trên thẻ bài hoen gỉ.
50 năm ! - trường chinh không toại chí
Ngọn dáo ngang tàng chưa thỏa cung mây.
Ngày hôm nay còn lại những gì đây
Trao hậu thế bao tấm lòng Trung Nghĩa.
Hàng mộ bia đất xưa thành hoang địa
Màn sương khói ngậm ngùi.
Cỏ điêu tàn màu Thương Tiếc khôn nguôi
Chiều rơi lạnh thêm mờ trang sử lạnh.
Huy chương ngời sao lấp lánh
Màu chiến thắng vinh quang
Triển lãm giờ đây, nhớ phút huy hoàng
Kèn xung trận dâng đời lên Tổ Quốc.
Hiên ngang giữa lòng Dân Tộc
Ngẩng cao đầu nối gót Cha Anh
Nhưng đau thương đứt đoạn bước quân hành
Chung một nước lại thành dân biệt xứ.
Chốn lưu đày nơi rừng sâu núi dữ
Nuốt thay cơm bao cay đắng nhục hình.
Mang về đây từng dấu vết điêu linh.
Trên thân tù cạn máu.
Lon "guigoz", nâng niu dường châu báu
Luộc thời gian từng lớp khói đen mờ.
Miếng nhôm mỏng mài thêm sáng nguồn mơ
Thành trâm - lược, quà yêu về tóc cũ.
Khúc tre khô - bao mộng đời ấp ủ -
"Điếu cày" chôn tâm sự thuở trầm luân.
Áo tù xưa hằn sâu vết gian truân
Màu xanh thẫm bạc phơ thành tang trắng.
Thân bức tử dãi dầu mưa nắng
Hận nghìn năm xuống ngựa buông cương.
Tượng đá đen thương nấm mộ ven đường
Cây súng gãy, giầy "saut" bên nón sắt
Cùng trăng sao vằng vặc
Dù sông cạn núi mòn
50 năm - về sau nữa vẫn còn
Trao gửi lại tấm lòng son của Lính.
Cho mai hậu giữa cồn dâu suy thịnh
Để người sau còn nhớ đến hôm nay.
Một trang sử lưu đày
Vết chàm sâu nét mực.
Tội Ác hòa chung Bạo Lực
Dày xéo cả non sông.
Thời gian vẫn xuôi giòng
50 năm - hay đến nghìn năm nữa
Hận lòng sôi núi lửa
Vẫn còn nguyên - hực đỏ - chẳng hề phai
Xin trao về cho thế hệ tương lai.
Để hiểu rằng : chúng tôi đổ máu
Suốt một đời chiến đấu
Vì Lẻ Sống : CON NGƯỜI !

Nhân dịp chiến sĩ Võ Đại Tôn chiêm ngưỡng cuộc triển lãm một phần di sản của
Viện Bảo Tàng Quân Đội VNCH do khóa Cương Quyết ĐàLạt 54 (họp khóa 50 Năm
Ngậm Ngùi, 1954-2004) tổ chức tại Phòng Sinh Họat Nhật Báo Người Việt, Quận Cam
ngày 27 và 28 tháng 3 năm 2004.

                                      Võ Đại Tôn
                                           Nam Cali, 27-3-2004       
Đàlạt 1964 : Trở về thăm trường xưa ...
Từ trái qua : anh Mã Sanh Qui 2/8, anh
Trương Phước Diệu khóa 4 Thủ Đức, cựu
Quận Trưởng Nhà Bè, anh Phạm Đăng Có 2/7
Nửa Thế Kỷ Vẫn Chưa Quên
                                      
Phạm Đăng Có - 2/7

50 năm về trước, khi rời trường Mẹ, chưa hề có kinh nghiệm chiến trường, tôi đến trình diện thiếu tá
Trần Văn Cường Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đòan 4 VN, Liên Đoàn Lưu Động 32.  Thời gian đó Ông vừa
được Thiếu Tá Richard bàn giao Tiểu Đoàn để trở về Pháp.   Tiểu Đoàn tôi đồn trú trên đỉnh núi Gôi, giữa
thành phố Nam Định và Ninh Bình.  Tôi được giao chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, thay thế thiếu úy
Vinh (con trai Thủ Hiến Bắc Việt Phan Văn Bính) vừa tử trận.   Mổi buổi sáng, đại đội tôi có nhiệm vụ mở
đường, rà mìn từ núi Gôi đến Tô Cầu (cách Nam Định 17 cây số).  Chúng tôi phải giữ an ninh lộ trình cho
đến tối khi không còn xe cộ lưu thông mới về đồn.  Hoặc cùng nhiệm vụ này trên đọan đường từ núi Gôi
đến Trịnh Xá - Trịnh Xuyên - Cát Đằng (cách tỉnh Ninh Bình 10 cây số).
Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Tiểu Đoàn tôi được lệnh của Đệ Tam Quân Khu di tản khỏi miền Trung
Châu Bắc Việt.  Tiểu Đoàn tôi di chuyển trên đoạn đường 80 cây số từ núi Gôi qua thành phố Nam Định
đến thành phố Phủ Lý trong hai ngày hai đêm.  Thật là gian khổ, vừa tránh pháo kích của VC  vừa chống
trả VC tấn công để yểm trợ lộ trình chuyển quân ba Tiểu Đoàn 14, 16, 18 của Đức Cha Lê Hữu Từ di tản
từ Bùi Chu Phát Diệm.
Tôi còn nhớ rỏ đêm đó, Tiểu Đòan tôi tạm dừng chân tại làng Mễ Tràng bên cạnh sông Giang thuộc tỉnh
Phủ Lý đã hoan tàn vì chiến tranh ...  Vị trù trì chùa làng Mễ ân cần cung cấp rơm, rạ, củi, gạo, nước để
nấu cơm, pha trà tiếp tế cho anh em binh sĩ Tiểu Đoàn.  Vị sư già này còn dẫn ban hỏa thực vào nơi kín
đáo để tránh ánh sáng lọt ra ngoài sẻ bị VC pháo kích.   Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn tôi lưu luyến chia tay
với vị Sư già nhân ái để tiếp tục hành trình đến Bần Yên Nhân (quốc lộ 5 Hà Nội - Hải Dương).  Tại đây
chúng tôi tạm đồn trú cho đến ngày đình chiến chia đôi đất nước 20/7/1954.  Thời gian đó, trong Tiểu
Đoàn tôi có 4 anh em cùng khóa 10/TBT : Phạm Văn Nghìn Đại Đội Trưởng Đại Đội 4, Đỗ Xuân Giới Đại
Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy, Nguyễn Bình Lượng vừa mới thuyên chuyển đến Tiểu Đòan và tôi.
Sau 300 ngày đồn trú tại làng Chi Lai tỉnh Kiến An (cách thành phố Hải Phòng 10 cây số), tháng 5/1955
Tiểu Đoàn tôi đáp tàu vào Đà Nẳng để chuẩn bị cuộc hành quân giải phóng Liên Khu 5 gồm các tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Qui Nhơn ...  Riêng tôi được lệnh biệt phái ngoại ngạch cho đến
năm 1964 mới trở về Quân Đội.
Năm 1979, chúng tôi đoàn tù cải tạo 80 người bị di chuyển từ trại Ba Sao đến tỉnh Phủ Lý, trời cũng vừa
tối.  Chúng tôi xuống xe, thất thểu đi theo con đường mòn chừng 1 cây số mới tới trại giam.  Sáng hôm
sau, tôi bàng hoàng nhận ra nơi đây chính là ngôi chùa 25 năm về trước chúng tôi đã được vị Sư trụ trì
tiếp đón ân cần.  Ngôi chùa Mễ Tràng nghiêm trang ngày nào, nay đã trở thành nơi giam giữ khoảng  300
tù cải tạo.  Không một dấu vết nào còn lại của nhà chùa.  Khi lao động khổ sai ngoài trại giam, tôi dò hỏi
dân làng về số phận của vị trù trì năm xưa.  Tôi được một cụ già cho biết Sư cụ đã viên tịch năm 1956 và
chỉ cho tôi nơi chôn Ngài.  Tôi tìm thấy ngoài cổng chùa dưới gốc cây nhãn, ngôi mộ thấp lè tè, mộ bia
gần sụp xuống ven sông.  Chúng tôi lén tu bổ từ từ, thầm cầu nguyện vị Sư già tiêu diêu miền cực lạc
khỏi thấy cảnh đau lòng ...
                                 Vật đổi sao rời, đời trôi lắm ngả
                                 Ta ngậm ngùi nhớ lại cảnh, tình xưa
                                 Cửa chùa xưa nay trở thành tù ngục.
                                 Đời trai trôi trong uất hận câm thù
                                 Thân cải tạo mịt mù không bản án.
                                 Mẹ Việt Nam, con xin thề với Mẹ
                                 Sẽ có ngày lũ quỉ đỏ tan thây
                                Cho Mẹ cười vui đất nước thanh bình.

                                                                                                          
 Reseda, 30-4-2004.
Năm Mươi Năm Sau

Tôi viết giòng thơ gửi các Anh,
Về đây chung dự buổi ra trường.
Năm chục năm rồi thuở chiến tranh,
Cùng ôn kỷ niệm bước quân hành

Đà lạt sương lam núi bạc đầu,
Trường xưa tôi luyện những gian truân.
Xuân Hương sóng gợn tình non nước,
Lang-Biang áp ủ mộng công đầu.

Khó khăn bền vững trong tay súng,
Hãnh diện chu tòan tổ quốc giao.
Trận mạc oai hùng quân địch khiếp,
Rạng rỡ danh trường Võ Bị giao.

Cuộc chiến chưa tàn tạm gác thôi,
Nhu cầu chiến lược ta thay đổi.
Nhân Quyền, Dân Chủ công hai mặt,
Quyết đánh phủ đầu Cộng sản toi.

Thôi nhé, bình yên chúc tụng nhau,
Tóc xanh nay đã trắng bạc đầu.
Hẹn ngày tái ngộ quê hương cũ,
Cầm lại cờ vàng hết bể dâu.

NP Bảo Định (2/8)
KỶ NIỆM 50 RA TRƯỜNG CỦA
SINH VIÊN SĨ QUAN TRƯỜNG VỎ BỊ
QUỐC GIA VIỆT NAM
KHÓA 10 TRẦN BÌNH TRỌNG
1/6/1954 - 1/6/2004
Thiếu Nữ RâĐê

Gặp nàng thiếu nữ RâĐê
Yếm thì chẳng có, thân hình tự nhiên
Phô hai bộ ngực nhãn tiền
Ngay chợ Đalạt giữa miền Lâm Viên
Gặp chàng Võ Bi. Sinh Viên
Áo quần tề chỉnh vai mang con rồng
Lang thang tản bộ cuối tuần
Nhìn nhìn ngấm ngấm khen thầm mà vui

Leo Núi Lang Bi Ăng

Trèo lên con đường quẹo
Tụt xuống con đường queo
Chân và thân mệt nhèo
Mà vẫn cứ phải leo
Ba lô đeo đầy mình
Thêm khẩu súng Garant
Đầu nón sắt hai lớp
Quân phục mặc đồ trận
Lên đỉnh ngọn Langbian
Làm lể chào quốc kỳ
Lúc ấy vừa rạng đông
Khóa 10 Trần Bình Trọng

Nhớ Về Đà Lạt

Sương mù giăng mắc muôn nơi
Rừng thông phủ kín núi đồi xa xa
Sinh Viên Vỏ Bị nhà ta
Trao dồi văn võ sớm trưa nhọc nhằn
Lang thang tản bộ cuối tuần
Con đường Cầu Quẹo nhớ từng bướ đi
Xuân Hương in bóng một thì
Cam Ly, Than Thở tình như gợi sầu

Ngày 3 tháng 6 năm 2004
Dương Đình Bộ
Result Page :