Thư tín  :

Điện thoại : (818) 776.0802   
               (818) 206.3204
Email          : phamdangco2000@yahoo.com
               nguyenbaochau_2000@yahoo.com
1993 : Sau mấy chục năm thăng trầm, ban
bè gặp lại. Từ trái qua : anh chị Phạm
Đăng Có, anh Lê Hữu Đức và anh Mã
Sanh Qui
Quân cảnh đang làm nhiệm vụ
Quân cảnh tuần tra khu phố
1966: Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh
1966: Trại Giam Tù Binh CS Việt Nam
Đà Nẳng
Với chánh sách khoan hồng nhân đạo của
VNCH và qui ước Genève 1949 về tù binh
chiến tranh, tù binh được hưởng chế độ lương
thực bằng với khầu phần ăn của hạ sỉ quan
QLVNCH :  gồm 21 kgs gạo/tháng + sinh tố,
thực phẩm tươi, rau cải, gia vị và trà.
Nếu tù binh tham gia lao động tùy theo ngành
nghề sẻ được trả tiền công theo giá biểu địa
phương.
Ngược lại, tù VNCH bị CSVN đối xử vô nhân
đạo,  bị bỏ đói triền miên mà vẫn phải lao
động khổ sai ...
QC Trầm xuân Sơn, Tổng Hội QC Nam
California và đại diện QC Texas tham dự
tiệc Tất Niên & Mừng Xuân Ất Dậu của
Hội Cựu SVSQ/TVB/QGVN/ miền Nam
California tổ chức ngày 30/1/2005 tại
Santa Ana
Houston (Texas), July 4, 2005
Từ trái sang phải : Hoàng Phúc
Duy, Trần Văn Thanh, Dương Thành
Thới, Ðào Văn Thạo, Vương Văn
Trọng
                                      Hai Mươi Chín Năm Lưu Vong
                                   Binh Chủng Quân Cảnh đã làm được gì và chưa làm được gì?

                                                                Người lính già Quân Cảnh

Còn một tuần nữa đến ngày 30 tháng 4, năm lưu vong thứ hai mươi chín.  Thời gian trôi thật nhanh với nhiều đổi thay.  Binh chủng Quân Cảnh cũng tan hàng trong ngày cuối 30 tháng
4, 1975 như những Quân Binh Chủng khác.  "Quốc phá, gia vong", đó gần như một định luật khó có ai thóat khỏi.  Mỗi người đều có những mất mát chung với Tổ Quốc và những mất
mát riêng của mình, mất mát trong gia đình, trong thân nhân, trong đời sống tình cảm riêng tư.
Nhưng tại hải ngoại, Binh Chủng Quân Cảnh đã trỗi dậy sớm nhất.  Những anh em Quân Cảnh đã tự động tập hợp và âm thầm chận đứng các thành phần thiên cộng xâm nhập, toan áp
lực trong các dịch vụ thương mại bành trướng núp trong các tổ chức có tánh cách xã hội cộng đồng.
Công việc làm âm thầm đó của anh em Quân Cảnh đã tỏ ra rất hữu hiệu chẳng những tại Hoa Kỳ mà cả tại Úc Châu.  Đó là những đóng góp đầu tiên của anh em Quân Cảnh cho công
việc chống cộng tại hãi ngoại.
Sau đó, sự kết hợp lớn dần.  Anh em tập hợp lại thành những Hội Quân Cảnh, trong tình nghĩa huynh đệ chi binh, đứng ra lo lắng cho những anh em đến sau tại các Trại Tỵ Nạn Đông
Nam Á.  Tình yêu thương đó lớn dần, đưa đến sự thành lập các Hội Quân Cảnh, Gia dình Quân Cảnh từng địa phương và sau cùng trở thành Tổng Hội Quân Cảnh.
Hướng đi là kết hợp nhau trong tình huynh đệ, lo về ái hữu, tương trợ, xây dựng nội bộ và kết hợp với cộng đồng địa phương trong công cuộc đấu tranh, tranh đấu cho Dân Chủ,
Nhân Quyền tại Việt Nam.
Cộng Sản không ngừng đánh phá các tổ chức chống cộng vì đó là mối lo hàng đầu của chúng trên phương diện chận đứng mầm chống đối trong nước và tuyên truyền cho đường lối
của chúng trên quốc tế.  Bọn chúng có tiền, có kế hoạch, có tình báo hải ngoại và có cả những người được chúng tuyển chọn nằm tiềm phục âm thầm trong các Hội Đoàn.
- Qua các chiến dịch Hòa Bình và Tự Do 1, chiến dịch Đông Xuân, chiến dịch Hoa Lan, chiến dịch Hòa Bình và Tự Do 2, chúng đã phá vỡ gần hết các tổ chức kháng chiến phát xuất từ
hải ngoại.
- Sau khi thành công, chúng bắt đầu chiêu dụ người Việt hải ngọai về hợp tác với chính quyền cộng sản.
- Quyết định số 210 ngày 27/10/1999 quy định quyền lợi và trách nhiệm cho người Việt tại hải ngoại về đống góp xây dựng đất nước.
- Quyết định số 114 ngày 31/7/2001 quy định người Việt tại hải ngoại khi về nước được hưởng giá rẻ trên phương diện giao thông vận tải.
- Nghị quyết số 36 ngày 26/3/2004 ấn định các biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt tại hải ngọai hợp tác với cộng sản hoạt động đầu tư trên phương diện công nghệ,
khoa học, nghệ thuật, văn hóa v..v..
- Tất cả các quyết định và nghị quyết trên nói lên một kế họach to lớn để chiêu dụ người Việt tại hải ngoại, vừa có lợi cho chúng trên các phương diện, đồng thời phá vỡ sự kết hợp
chống cộng của người Việt tại hãi ngoại.  Song song với kế hoạch chiêu dụ, cộng sản còn tung tiền mua các cơ sở thương mại, các chợ, các giờ trên đài phát thanh, xâm nhập các cơ
sở tôn giáo để chia cắt, kèm hãm, và lợi dụng cho mục tiêu "tầm ăn dâu" trong tất cả các sinh họat cộng đồng tại hải ngoại.
- Chúng ta đã làm gì để phá vỡ sách lược này của cộng sản?. Các đài phát thanh có ngăn chặn không?. Truyền thông báo chí có phân tích và cảnh báo cho cộng đồng không?.  Các
Hội Đoàn, Dòan Thể có cảnh giác âm mưu này cho hội viên của mình không?.  Chúng ta chưa làm, vì chúng ta chưa nhìn thấy chiến lược "hải ngoại vận" của cộng sản.
- Riêng về phương diện chìm, chúng đã cho cán bộ tình báo chỉ đạo một số thành viên đã được chuẩn bị cho nằm tiềm phục trong các Hội Đoàn "tạo cơ hội", xé rách sự đoàn kết nội
bộ.  Khi sự đoàn kết mất đi, tình huynh đệ không còn, thì Hội Đoàn chỉ còn danh xưng mà thôi.  Hội Đoàn tự nhiên tê liệt,  chỉ còn hận thù, tránh né, im lặng và sự chống cộng "sẻ
ngưng".
Chúng ta thích họat động trên hình thức để tạo DANH, mà thiếu chiều sâu, thiếu cái nhìn chiến lược, cái nhìn trên tổng thể vấn đề.  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người lãnh đạo đát
nước cũng không có cái nhìn đó.  Ông chỉ tin vào tử vi, bói toán số mệnh mà quyết định vận mạng đất nước.  Đại tướng Dương Văn Minh cũng không hơn, chỉ tin vào một vị lãnh đạo
tôn giáo, trối tay Dân, Quân, Cán, Chính VNCH trong một quyết định vô cùng tai hại, không huy động toàn quân, toàn dân chống địch, không thành lập chính phủ lưu vong, mà xóa sổ,
dâng Tổ Quốc cho Cộng Sản Quốc Tế bằng quyết định đầu hàng địch.
Chúng ta đừng đổ lỗi cho Hoa Kỳ hay đồng minh.  Đại họa đất nước nằm trong tay người lãnh đạo thiếu quốc sách, không có cái nhìn chiều sâu, chủ bại mà nên.  Hai mươi chín năm
tạm dung tại xứ người, binh chủng Quân Cảnh đã góp phần gì cho đại cuộc?. Khởi đầu rất tốt, nhưng thời gian đã soi mòn ý chí.
Nếu chúng ta chỉ có danh xưng, có hình thức mà không có sự yêu thương nhau thật lòng, chỉ có môi miếng bên ngoài, chúng ta sẽ như người đi xe đạp mà bánh bị xì hơi, xẹp bánh.  
Xe vẫn chạy, càng chạy càng chậm dần, càng chạy càng đuối sức, và với tình trạng đó, sẽ không đi được đường dài.
Mong rằng bài học 30/4 mà chúng ta học đi học lại suốt 29 năm nay sẽ giúp chúng ta có tầm nhìn chiến lược.  Với cái nhì đó, chúng ta sẽ kết hợp trở lại như những ngày đầu, "hồi phục
lại sức mạnh huynh đệ chi binh", cùng hành động chung, đem mọt sức mạnh tổng hợp " có định hướng" để cùng "toàn quân" làm một điều gì đó cho đất nước.  Mong lắm thay!!!.

                                                           
30-4-2004
Lê Hữu Đức
     MP MỸ GẶP VẬN XUI

Đã là quân nhân mà lại thuộc nghành QC, tất nhiên chúng ta phải súc động trước cái si-cang-đan to lớn do Đại Đội QC 372 Mỹ gây ra tại trại giam Abu Ghraib ở ngoại ô thủ đô
Baghdad, Iraq.
Một số người Mỹ xem hình một nữ QC lấy giây xích cổ một tù binh rồi lôi đi như người ta lôi một con chó, không dám tin đó là chuyện thật, vì "cô gái trong hình đâu có khác một cô
gái nhà lành nào của hàng xóm".  Nhưng có ở trong chăn mới biết chăn có rận.  Mới biết là chiến tranh có ma lực biến một ông thánh sống được mọi người mến phục thành một quỷ
vương mà không ai không thù ghét.  Mới biết là chuyện con sâu làm rầu nồi canh đó có thể xảy ra cho bất kỳ quân đội của một quốc gia nào, dầu cho quân đội đó có tác phong đạo
đức cao quí đến đâu đi nữa.
Chi tiết của nội vụ chúng ta đã nghe đầy tai, vì truyền thông Mỹ và quốc tế đã không chừa một nổ lực nào để biến chuyện con sâu làm rầu nồi canh nầy thành một quả núi tội ác.  Làm
cho dư luận Mỹ và thế giới hết sức hoang mang giao động, cho đến mức TT Bush phải quyết định phá hủy trại giam Abu Ghraib và xây một trại giam khác.  Quan trọng hơn là việc
thay thế Trung Tướng Sanchez, vị chỉ huy quân đội Mỹ ở Iraq, bằng một ông tướng bốn sao, vì ông tướng ba sao Sanchez đã bị báo Washington Post nghi ngờ là có mặt ở trại giam
trong lúc các vụ phạm pháp xảy ra.  Nhưng chính quyền Bush thì cho là một ông tướng bốn sao mới có đủ uy tín để giao dịch với các lực lượng đồng minh sau ngày 30 tháng 6, khi
Mỹ trao quyền lại cho một chính phủ lâm thời Iraq.  Tướng Sanchez có thể được nâng lên bốn sao để thích ứng với nhiệm vụ mới, nhưng sau vụ lạm dụng xảy ra ở trại giam Abu
Ghraib thì việc nâng cấp nầy khó lòng được Quốc Hội chấp nhận.
Đồng thời, tòa án quân sự Mỹ cũng gấp rút xét xử bị cáo đầu tiên là chuyên binh (Spc-specialist) Jeremy C. Sivits.  CB Sivits bị chánh án đại tá James Pohl phạt một năm tù ở, hạ cấp
xuống binh nhì, và bị lọai trừ ra khỏi quân ngũ vì hạnh kiểm xấu.  Chuyên binh là một cấp bậc đặc trưng của quân đội Mỹ mà ta không có.  CB được sắp ngang hàng từ hạ sĩ đến
trung sĩ nhất.  CB, như danh xưng, là một quân nhân có ít nhiều chuyên môn.  CB Sivits chuyên về cơ khí, đáng lẻ phải được giao phó một trách vụ tương xứng, nhưng không biết
trời xui đất khiến như thế nào lại dính dấp đến việc khai thác tù binh để phải mang lụy vào thân.
Trở lại việc Sivits bị lọai ra khỏi quân ngũ vì hạnh kiểm xấu.  Có người cho là đã bị loại ra khỏi quân ngũ, thì chuyên binh hay binh nhì cũng vậy thôi.  Nhưng sự thật không phải vậy.  
Để các bạn và tôi hiểu rỏ thêm chút ít về hoạt động của tòa án quân sự Mỹ, tôi xin dựa vào một bài báo do một cựu sĩ quan Mỹ là ông Phillip Carter, để chép nhặt các ý kiến sau đây :
Đối với quân nhân, cấp bậc là một danh dự, một niềm hảnh diện.  Cất niềm hảnh diện đó là một hình phạt tinh thần cộng thêm hình phạt về thể xác là phải ngồi tù.  Ngoài ra, trong
thời gian bị giam, quân phạm chỉ hưởng một phần ba lương căn bản, mà lương của một CB và binh nhì cách nhau trên dưới 700 đô một tháng.  Đó là một hình phạt khác về tài chánh.
Ngày xưa, khi nghe đến Tòa Án Quân Sự, quân nhân ta ai cũng khiếp sợ.  Cách đây hơn 20 năm, khi gặp Ông TVT, một cựu chánh án Tòa án Quân sự của ta ngày trước, tôi có hỏi ý
kiến ông về chuyện khiếp sợ đó, ông chỉ cười, không xác nhận mà cũng không đính chánh.  Không biết quân nhân Mỹ có cái lo sợ đó không, nhưng nếu có thì đó là một sự lo nghĩ
không cần thiết.  Vì Tòa án Quân sự Mỹ tuy tổ chức có khác tòa án dân sự, nhưng quyền tự do của quân nhân bị cáo được bảo vệ đầy đủ.
Đối với một luật sư, đừng nói chi đến một phó thường dân như kẻ viết bài nầy, Tòa án Quân sự Mỹ tuy không khác Tòa án Dân sự bao nhiêu, nhưng sự khác biệt nhỏ đó cũng làm cho
ông luật sư kia điên đầu.  Tòa án Quân sự không xét xử theo bộ hình luật liên bang, mà theo bộ quân luật gọi là Uniform Code of Military Justice (UCMJ).  UCMJ cũng có vô số điều
khoản để xử lý với mọi trọng tội như bộ hình luật của tòa án dân sự.  Ngoài ra, Tòa án Quân sự còn có những điều luật riêng cho các tội phạm có tánh cách quân sự như bất tuân
lệnh,  v.v.  Thành phần của một tòa án quân sự cũng gồm có công tố viên, chánh án, hội thẳm đoàn, luật sư biện hộ, v.v.  Tuy nhiên các viên chức nầy đều do Quân đội chỉ định, và
họ chỉ trực thuộc Tổng Thống là vị chỉ huy quân sự tối cao, chớ không trực thuộc Bộ Tư pháp hay Quốc phòng.  Chánh án các tòa quân sự được tuyển chọn trong hàng ngũ của đơn
vị có tên là Judge Advocate General Corp (JAG); những luật gia nầy đều có nhiều năm kinh nghiệm xét xử ở tụng đình.  CB Sivits chỉ bị phạt có một năm tù, vì tòa án xét xử anh ta là
một tòa án đặc biệt (special court-martial), mà tòa nầy chỉ có quyền phạt tối đa một năm tù.  Các bị cáo còn lại sẻ không có cái may mắn đó, vì họ sẻ bị đưa ra một tòa án gọi là
(general court-martial).
Chi tiết còn nhiều, nhưng những chi tiết đó xin để dành cho ông TVT.  Còn anh em chúng mình càng nghe càng chán.  Và chắc các bạn đã đi ngủ rồi.  Vậy xin tạm biệt.

Binh Ba La.
Ca sỉ đại diện QC Texas hát bản
Cô Gái Xuân
Tiệc Mừng Xuân Bính Tuất 2006
của Hội Ái Hữu       /QLVNCH Bắc Cali ngày 19/2/06  
tại San Jose, California
Anh Hùng & anh Minh đại diện QC Bắc Cali
thết đãi phái đoàn QC nam Cali tối ngày
18/2/06 tại Hàn Kee restaurant, San Jose
Result page :
Prev
Next